SÁU CÕI NÀY AI CŨNG VỀ ĐƯỢC với điều kiện như thế này. Ai hợp với cái nào thì về cái cõi đó mà sau này chúng ta không còn đi tái sinh luân hồi nữa thì lúc đó chúng ta chấm dứt sự khổ đau. Người già cũng làm được, người trẻ cũng làm được. Sáu cõi đó sẽ đơn cử để chúng ta nắm được để mà sau này để chúng ta phải chuẩn bị cho chúng ta một cái hành trang, để sau này chúng ta chết chúng ta đi về đâu? Tu theo đạo Phật nó phải như thế. Chứ mình không biết mình chết mình đi về đâu thì tu để làm gì?
Cái thứ nhất là cái cõi chúng ta đi về cõi Niết Bàn, tức là ngay khi chúng ta còn sống đây này, không phải đến khi chết, khi chết là dĩ nhiên rồi, ai cũng phải chết, nhưng mà ngay khi còn sống chúng ta về cái cõi đó.
.
A- Cõi thứ nhất: ĐOẠN TRỪ TẤT CẢ CÁC LẬU HOẶC VÀ CÁC KIẾT SỬ
CÁI LẬU HOẶC LÀ CÒN KHỔ ĐAU - Tức là chúng ta phải đoạn trừ hết các lậu hoặc.
.
- Cái gì là lậu hoặc: Tham, sân, si, mạn (kiêu căng), nghi (nghi ngờ), ta đoạn trừ những cái đó, đó là những cái lậu hoặc. Chúng ta còn tham ăn, chúng ta còn tham ngủ, chúng ta còn tham sắc dục, chúng ta còn tham tiền bạc, chúng ta còn tham danh (quyền chức), lợi đấy là các kiết sử.
.
- Những kiết sử, kiết sử thì nó có bẩy loại. Kiết sử là cái sự trói buộc, làm cho chúng ta muốn đi theo đạo phật, muốn giải thoát con đường khổ đau này, không thoát được, bởi vì nó trói buộc chúng ta.
.
I/ THẤT KIẾT SỬ:
Thất kiết sử là bảy pháp trói buộc con người, khiến cho đau khổ. Bảy pháp đó gồm:
.
1-ÁI KIẾT SỬ:
Ái kiết sử nghĩa là lòng thương yêu, ưa mến, thích thú của mình, nó đã trói buộc mình, làm cho mình đau khổ. Nghĩa là lòng thương yêu của mình đối với một đối tượng nào đó, một vật gì đó, đối với cha mẹ anh em, đều thuộc về ái kiết sử. Cho nên lòng thương yêu đó trói buộc mình, làm cho mình đau khổ. Hoặc là mình ưa thích một vật gì đó, thì đó cũng thuộc về ái kiết sử, cho nên nó trói buộc mình nhiều lắm. Thí dụ bây giờ mình ưa thích cái nhà, thì chính cái nhà đó là ái kiết sử, cho nên nó trói buộc mình, làm cho mình ưa thích nó, vì vậy mình chịu đau khổ đủ cách, đó là ái kiết sử.
.
2- SÂN KIẾT SỬ:
Là lòng sân, buồn, tức, giận, dữ của mình đã trói buộc mình, làm cho mình buồn khổ. Nghĩa là nó kéo cho mình triền miên, nó luôn luôn miên mật trong lòng mình, làm cho mình giận kéo dài hoài hoài, cho nên nó trói buộc mình, nó làm cho mình không bao giờ nguôi lòng sân đó được, lòng giận hờn đó được, đó là sân kiết sử, nó trói buộc mình, nó làm cho mình kéo dài hoài, nó buộc mình hoài.
.
3- KIẾN KIẾT SỬ:
Kiến kiết sử là sự cố chấp hiểu biết của mình, cho là đúng, còn tất cả sự hiểu biết của người khác cho là sai. Vì thế nó tự trói buộc lại mình, làm khổ mình, ai nói gì mình cũng chả nghe. Thí dụ bây giờ mình nói thế này, tôi thì tuổi trẻ, còn nhỏ chưa biết đời, cho nên phải hiểu đời rồi tu mới dễ xả bỏ, bây giờ chưa biết đời mà xả bỏ, tôi chưa biết gì hết tôi xả bỏ khó lắm. Do đó cái ý kiến, cái kiến chấp của mình là vậy. Người ta nói đời là khổ, đừng có nhiễm nó, nhiễm nó là xả không được, nhưng mà mình cứ chấp cái ý của mình như vậy, mình phải hiểu đời mình mới xả được, còn mình chưa hiểu. Do chỗ kiến chấp đó là kiến kiết sử, nó trói buộc mình hoài, nó làm cho mình không chấp lời nói của người có kinh nghiệm đi qua. Vì vậy mình bị trói buộc trong đó, cho nên mình cứ ray rứt, mình khổ đau phải như thế nào, thế nào, nó làm cho mình phải hiểu chứ còn không hiểu không hay. Nhưng mà khi đã hiểu rồi, tới chừng đó mà lời những hiểu biết của người ta, kiến là hiểu biết, người ta nói quá đúng rồi, giờ mình có rồi mình không xả được rồi! Trời ơi, giờ có vợ, có con một bè rồi giờ sao mình xả đây, mình bỏ nó đâu có được, cho nên mình dở chết dở sống. Hồi đó không có thì khoẻ quá, mà giờ có thì khổ quá. Cho nên kiến kiết sử trói mình rất chặt.
.
4- NGHI KIẾT SỬ:
Là lòng nghi ngờ tự trói buộc mình, làm khổ mình, mà chẳng bao giờ chịu rời bỏ. Nghĩa là lòng nghi của mình, mình nghi cái gì đó, mình không chịu bỏ lòng nghi đó, do chỗ đó mình sẽ mất đi nghị lực của mình. Thí dụ bây giờ mình nghi pháp đó tu không được, thì mình hết muốn tu nổi rồi. Một người học trò mà nghi thầy dạy mình là tu chưa tới nơi, lòng nghi này làm cho mình không còn tu tập được nữa. Như nghi Đức Phật là không đúng, hay đạo Phật không đúng, thì không còn theo đạo Phật tu nữa. Đó là cái nghi mà sẽ mất đi chỗ tu tập của mình. Cho nên nghi kiết sử này trói buộc làm cho mình không xả ra được. Từ đó người học trò mà xa thầy, họ nghi thầy bằng cách này cách khác, mà họ không tự tìm hiểu cho rõ ràng. Do bị cái nghi đó mà họ không còn tu tập được với pháp của một vị thầy. Cũng như mình nghi Phật tức là mình không thể nào theo đạo Phật được. Đó là cái nghi trói buộc mình, từ đó mình bị trói buộc mà mình không tự sáng suốt thấy ra. Bởi vậy Đức Phật dạy, cũng như Thầy dạy, cái gì Thầy nói thì đừng tin Thầy mà hãy suy ngẫm, suy ngẫm thấy đúng mới tin. Như vậy nó có còn nghi không? Nó không còn nghi. Còn bây giờ Thầy nói thì không chịu nghe lời giảng dạy của Thầy, do đó không chịu suy ngẫm có đúng không, vì vậy mà đâm ra mình nghi Thầy bằng cách này, cách khác từ đó mình không còn tu tập nữa.
.
5- MẠN KIẾT SỬ:
Mạn kiết sử là lòng ngã mạn, kiêu căng, tự đắc, tự trói buộc mình, lúc nào cũng xem mình là trên hết. Do lòng hiu hiu tự đắc này đã làm khổ mình, tức là trói buộc, đã làm mình rất khổ mà mình không hay biết gì, tưởng mình ngon, tưởng mình hay, cho nên mình cứ tự coi như mình ngon nhất. Do đó nó tự trói buộc mình mà mình không chịu bỏ chỗ đó. Cho nên hầu như người ta có một chút ít học thức nào đó, bỗng dưng người ta có mạn kiết sử liền tức khắc, nó trói buộc họ, họ coi chỗ học của họ là hơn hết, cho nên họ bị ngã mạn, cái mạn đó.
.
6- HỮU THAM KIẾT SỬ:
Hữu tham kiết sử là những vật mình có sẵn rồi, như bây giờ mình có cái nhà, cái đồng hồ, cái bàn, ghế, này kia, những vật mà mình có sẵn rồi, mà bây giờ những vật này mất đi, mình buồn mình tiếc, ai làm hư thì mình giận, mình chửi người ta. Đó gọi là hữu tham kiết sử, nó làm cho mình buông xả không được, tức là mình bị trói buộc. Cũng như cái nhà mình có người lại lấy đi, hoặc cái bàn họ lấy đi, tức là mình phải nói cái bàn này của tui, không phải của ông, ông lấy không được, tức là không rời bỏ được cái của. Thậm chí tu sĩ chúng ta có cái bình bát thôi, mà cứ sửa sang, cho cái bình bát đẹp, thì người đó cũng bị hữu tham kiết sử rồi đó chứ chưa có xả hết.
.
Thí dụ chúng ta một có cái gì tốt, người ta xin thì vui lòng cho liền, thì người đó không bị hữu tham kiết sử, còn mình thấy vật này tốt, không dám cho, tức là mình còn bị hữu tham kiết sử trói buộc mình với vật đó. Thí dụ đồng hồ của thầy đây mà ai hỏi xin thầy, thầy nói đồng hồ này hư rồi, thôi để thầy kiếm đồng hồ khác. Nhưng mà đó là hữu tham kiết sử, thầy muốn giữ nó, thầy khéo léo thầy nói như vậy, thầy không muốn rời nó, nó có những kỷ niệm của thầy này kia, hồi đó có một người bạn nào đó biếu thầy mà bỏ nó thì mất tình kỷ niệm. (40:10 – Pháp hành 14)
.
Quý thầy chắc có lẽ cũng hiểu rất rõ chứ. Cái gì chúng ta có mà chúng ta bỏ ra không được, thì đó gọi là hữu tham kiết sử, tức là bị trói mình với vật đó, thì đó là hữu tham kiết sử.
.
7- VÔ MINH KIẾT SỬ :
Là điều mình không hiểu mà cứ nghĩ rằng mình hiểu. Chẳng hạn như các thiền sư, họ không hiểu mà cứ nghĩ rằng mình hiểu, cũng như không hiểu Diệt Thọ Tưởng Định mà họ dám nói đùa như vậy đó, râu tóc mọc dài như vậy đó. Đó là cái họ không hiểu, mà đó là cái vô minh của họ mà họ không biết. Ví như các thiền sư Đông Độ, không hiểu Tứ Thánh Định mà cứ cho là mình hiểu, nên xếp loại nó vào Thiền tiểu thừa, Phàm phu thiền hay Ngoại đạo thiền. Nghĩa là mình không hiểu nó, mà bây giờ mình dám xếp nó vào những loại thiền như vậy, thì tức là mình chẳng biết gì hết.
.
Cho nên theo trong kinh sách, thì ngài Khuê Phong, ngài viết kinh sách, ngài thiền giáo, ngài dung hòa trở lại để cho nó đồng hành trên một đường tu hành. Cho nên ngài xếp loại năm loại thiền, do đó thiền mà chúng ta đang tu Tứ thiền, thì ngài xếp vào Thiền phàm phu, Thiền tiểu thừa. Đó gọi là Vô minh kiết sử, cái không biết mà ngài cứ ngỡ là ngài biết cho nên ngài xếp loại. Cho nên sau này ai cứ theo đó xếp thành năm loại thiền định, thì loại thiền Tiểu thừa, Thiền phàm phu này do ngài Khuê Phong đặt ra, chứ không phải ai đặt ra, chúng ta biết được nhân vật làm ra điều này. Bây giờ chúng ta cứ ngỡ ngài thiền sư Khuê Phong là một ngài thánh cho nên biết tất cả. Thật sự là ông chả có nhập được Tứ thiền chút nào hết, ông cũng chẳng biết tịnh chỉ hơi thở như thế nào hết, mà ông dám bảo rằng nó là Thiền phàm phu.
.
Không ngờ rằng trong loại thiền này thì Đức Phật đã xác định cho chúng ta biết rõ ràng là Thánh trú, bậc Thánh mới ở trong loại thiền này. Phạm trú, là tất cả đức hạnh Phạm Thiên ở trong cái này. Như lai trú, tức là bậc Như lai mới trú vào trong chỗ đó. Đức Phật xác định cho chúng ta biết bốn loại thiền như vậy là những bậc Thánh, mà bây giờ phàm phu thiền thì Thầy thấy chỉ phàm phu mới nhập định đó, chớ còn Thánh đâu ở trong đó chi. Đó là cái sai của họ. Cho nên đây là tới bảy, vô minh là cuối cùng, nhưng mà cái không hiểu mà người ta coi như mình hiểu.
.
Cũng như nhiều khi mình thương nhớ hoặc này kia, nọ trong lòng của mình, mà mình không hiểu, tức là vô minh kiết sử. Nó làm cho mình dính mắc ở trong chỗ không hiểu đó, nó trói buộc mình trong chỗ không hiểu đó, mà mình cứ cho mình hiểu.
Thế nào là vô minh: Vô minh không có nghĩa là điên rồ, vô minh không có nghĩa là ngu si, mà vô minh ở đây không hiểu chính pháp của Phật như thật.
.
Vô minh là không hiểu: Đây là Khổ, đây là Khổ Tập, đây là Khổ Diệt, đây là con đường đưa đến Khổ Diệt, đấy gọi là vô minh.
Thế nào là vô minh: Hôm nay gặp chính pháp mà còn không nghe đấy là vô minh.
.
Thế nào là vô minh: Chính pháp của Phật mà không nghe mà còn sân hận, mà còn đốt vàng mã, mà còn cúng bái, còn dâng sao giải hạn, còn gọi hồn, mà còn nhảy đồng, đấy gọi là vô minh, đấy là kiết sử, vô minh.
.
B/ Chúng ta phải diệt trừ năm Hạ phần kiết sử.
Hạ phần thì nó có gồm: Năm hạ phần kiết sử:
- Một là tham.
- Hai là sân.
- Ba là si.
- Bốn là mạn.
- Năm là nghi.
.
Tham tức là hồi nãy là dục cái đó. Thì chúng ta thấy nó che ngăn nó làm cho chúng ta không thấy gọi là cái. Mà nó làm cho chúng ta bị trói buộc, bị dính mắc đó, thì đó là kiết sử. Kiết sử có nghĩa là nó trói chúng ta rồi nó sai chúng ta, nó làm cho chúng ta chạy theo nó gọi là kiết sử. Cho nên khi mà chúng ta bị một cái tâm tham, mà nó kiết sử á thì chúng ta bị nó trói chúng ta rồi nó sai chúng ta gọi là kiết sử. Mà khi một cái tâm tham mà của chúng ta nó bị mờ ám nó làm cho chúng ta phạm giới đó, thì cái đó là dục cái. Chúng ta không rõ cho nên do cái tâm ham muốn đó mà nó xảy ra nó làm chúng ta phạm giới. Thì đó là dục cái. Chẳng hạn là, như bây giờ đó mình bị che mờ, mình thấy một cái cô phụ nữ đi ngang qua, trong tâm mình khởi lên có cái tâm dục, thì do đó là mình bị cái tâm dục mình nó che đi. Tức là nó tâm tham dục đó, nó che đi. Do đó cái ý mình khởi lên, mình thấy cô ta đẹp, chứ mình chưa khởi gì hết, thấy cô ta đẹp thì ngay đó là mình bị che mờ đi, do cái ý đó mình đã bị phạm giới. Đó, còn bây giờ thì kiết sử thì nó lôi chúng ta chạy theo nè cười cợt, nói chuyện với cô ta rồi đó, thì cái chuyện đó là kiết sử. Bây giờ nó lại gần hơn đó, hồi đó nó che chúng ta, rồi chúng ta hổng thấy, chúng ta khởi mà khởi ý thích thôi. Thì bắt đầu cô này ngó mình cái, liếc cái rồi, mình cũng ngó theo liếc theo, bắt đầu bây giờ mình đi theo gót cô ta, tìm cách gợi chuyện nói. Thì như vậy, đó là mình đã bị kiết sử nó trói mình đó.
.
Sân nó cũng vậy, mà si. Ở đây chỗ si mà gọi là năm hạ phần kiết sử á thì Phật còn có một cái tên gọi là giới cấm thủ. Nghĩa là cái si nó làm cho mình, dính mắc, giữ gìn cái đó trở lại. Nó làm cho mình không có thấy cho nên mình không có buông ra được, mình không có ly ra được. Chạy theo hoài mà không có biết mệt mỏi. Đó là gọi là si, cho nên Phật còn gọi là giới cấm thủ.
.
Mạn, tức là, ở đây Phật còn gọi chữ mạn là thân kiến. Nghĩa là mình chấp cái thân của mình. À cái phần mà năm hạ phần kiết sử này á, là thay vì mạn là ngã mạn, là kiêu mạn thì ở đây mạn của cái năm hạ phần kiết sử này thì Phật cho là thân kiến. Tức là mình chấp cái thân của mình là có thật, có thật ở trong thân này, có cái thật ở trong này. Ở trong cái thân tứ đại này, nó có cái thật ở trong này. Cho nên đó gọi là thân kiến là kiến chấp, tức là chấp cái thân có thật. Cho nên chữ mạn đây là chỉ cái thân kiến, chứ không phải mạn là ngã mạn, cao ngạo, mà đây là thân kiến. Cho nên năm hạ phần kiết sử này là chắp cái thân mình, do có vì vậy mà có những vật chất xung quanh là cái năng sở của nó, nó trói buộc mình nó làm cho mình bị cái mạn này.
Nghi thì chắc chắn là nãy Thầy có giảng ở nghi cái rồi, bởi vì cái nghi này nó nghi rồi bắt đầu nó đi theo dõi rồi nó này kia nọ, nó đủ cách nó lôi cuốn mình đó, gọi là nghi. Mà nó cái kiết sử thì nó lôi mình đi theo cái sự nghi đó, mà nó không bao giờ mà rời gọi là kiết sử. Cho nên đây gọi là năm hạ phần kiết sử.
.
C/ Chúng ta làm muội lược tham, sân, si.
Không còn tham, không còn sân (tức giận), không còn si mê. Si ở đây thì nó nằm trong vô minh. Chúng ta ngủ nhiều thì đó là si. Chỉ cần chúng ta muội lược tham, sân, si này thôi là chúng ta cũng trở về cõi Niết Bàn.
.
D/ Diệt trừ ba hạ phần kiết sử:
Thân kiến kiết sử, nghi kiết sử, giới cấm thủ kiết sử, diệt ba phần này thôi, chúng ta cũng được vào cõi Niết Bàn.
E/ Giữ gìn được tâm bất động, thanh thản, an lạc và vô sự.
Chúng ta giữ được cái trạng thái của tâm bất động, thanh thản, an lạc, vô sự chúng ta cũng vào được cõi Niết Bàn.
F/ Cái chặng đường thứ sáu: Chúng ta vào cõi Niết Bàn là làm sao chúng ta có một cái tâm Từ, tâm Bi đối xử với mọi người không làm khổ mình, không làm khổ người, không làm khổ muôn loài chúng sinh.
.
Các pháp nào khi chúng ta thân cận, một người nào mà chúng ta thân cận, thiện pháp nó tăng trưởng, ác pháp nó suy giảm thì chúng ta thân cận. Còn ngược lại khi chúng ta thân cận với ai hay đến với trụ xứ nào mà thiện pháp suy giảm, ác pháp tăng trưởng thì dù được mời mọc, dù được lợi lạc bao nhiêu chúng ta lập tức bỏ đi, chúng ta phải làm được những cái việc ấy thì chúng ta vào được cái cõi Niết Bàn.
.
Mục đích của Đạo Phật như thế, đơn giản thế thôi.
.
Đấy là sáu cái đường đi vào Niết Bàn, mà ai có cái duyên nào vào cửa nào, vào cái cõi nào tùy. Chúng ta làm được hết. Mục đích của chúng ta là giải thoát đến đấy thôi là chúng ta đã chuẩn bị sau khi chúng ta chết đi về cái chỗ đó khôngcòn tái sinh luân hồi nữa, là lúc đó chúng ta không còn khổ nữa. Chúng ta ai cũng làm được, Phật, Trưởng lão khẳng định như thế nhưng mà với điều kiện thế này. Tu tập Bát Chánh Đạo.
(Tổng hợp từ hai nguồn, bài giảng của Trưởng lão Thích Thông Lạc và Thầy Chân Thành)
.................................................
Trưởng lão trả lời Vấn đạo cho gia đình cô Liễu Kim ở Hà Nội
CÔ LIỄU KIM ĐÃ VÀO NIẾT BÀN CHƯA?
Thầy mong rằng gia đình cô Liễu Kim luôn nhớ gương hạnh của cô Liễu Kim trước khi chết mà Thầy có về thăm. Hôm nay được duyên gặp lại Thầy, Thầy rất mừng là Thầy đã trao Pháp cho cô Liễu Kim là Phật Tử Hà Nội đầu tiên gan dạ trước những cơn đau như cắt ruột, thế mà vẫn giữ tâm thanh thản, an lạc, vô sự để đế khi ra đi một cách tự tại, và Thầy xin báo rằng cô Liễu Kim đã được vào Niết Bàn thanh thản, an lạc, vô sự không còn phải tiếp tục tu trong tưởng nữa, như vậy thì gia đình các con rất là an vui và hạnh phúc vô cùng. Và cũng từ đó lấy gương cô Liễu Kim mà tập tu cho chính bản thân mình, để ngày mai mình sẽ rơi vào trạng thái bất động đó luôn luôn Vĩnh viễn không còn tái sanh luân hồi, đó là một hạnh phúc của đời người chấm dứt bốn sự đau khổ của kiếp người và mọi kiếp kế tiếp nữa. Thầy mong rằng gia đình các con vì có một người vợ, có một người mẹ xứng đáng với cùng theo Phật Pháp đúng pháp, hãy cố gắng lên các con, tóc đã bạc rồi.
(hình coppy)


0 Comments